Nhà bán quận 12, sổ hồng riêng, Phường an phú đông

09:59 |
Nhà có kết cấu trệt một lầu, 2 phòng ngủ, 1 phòng đa năng, 2 toilet, 1 phòng khách, bếp...
Nhà xây mới 100%, sổ hồng riêng. Nhà thiết kế hiện đại, sân trước 16m2
Đường rộng 5m, dân cư đông,  sát bên trung tâm đăng kiểm Q12, gần trường ĐH Nguyễn Tất Thành (cơ sở 2). Cách Quốc lộ 1A 50m,
Địa chỉ: Phường An Phú Đông, Quận 12, TP HCM
*/Tặng máy nước nóng năng lượng mặt trời, cho 5 khách hàng đặt mua sớm nhất.
LH: 0933.001.808
Danh mục vật tư, thiết bị:
- Thép Việt – Nhật (Vinakyoei), Pomina.
- Xi măng Sao Mai, Hà Tiên.
- Dây điện Cadivi, ổ điện Clipsal hoặc tương đương
- Ống nước Bình Minh.
- Thiết bị vệ sinh Inax hoặc tương đương
- Gạch lót nền bóng kính 2 da 60 x 60
- Cầu thang: ốp đá hoa cương, 
- Cửa phòng khách, phòng ngủ gỗ song mã.
- Cửa ban công, cửa sổ, cửa nhựa lõi thép ST window.
Danh mục thiết bị tặng kèm theo:
- Máy nước nóng năng lượng mặt trời
- Bồn chứa nước Inox 1.000 lít, Máy lạnh panasonic,
- Phòng tắm đứng.
- Tủ bếp 
gỗ trên dưới , ....

Bảng giá chi tiết: xem or download

Đất nền quận 12, phường an phú đông, thổ cư, bao GPXD

09:52 |
Đất nền quận 12, tọa lạc tại phường An phú đông, Quận 12, Đường bê tông, cách Ql 1A 50m, khu dân cư ổn định, sát bên trung tâm đăng kiểm Q12, gần trường ĐH Nguyễn Tất Thành (cơ sở 2).
Diện tích 55m2 (4x12.5) Nhiều diện tích lớn nhỏ 
Sổ hồng riêng, Bao xây dựng, đường xe hơi
Hướng: Bắc, Nam, Tây
Điện nước chính.
Giá ưu đãi cho đợt đầu, chỉ 10 nền,
Giá từ: 470 triệu/nền
Để biết thêm chi tiết vui lòng gọi về số hotline: O933OO18O8

Thị trường BĐS: Bảo vệ bên mua, không làm khó bên bán

03:21 |

Một trong những nét mới của Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (BĐS) là quy định ngân hàng thực hiện việc bảo lãnh cho chủ đầu tư khi huy động vốn. Việc bổ sung quy định bảo lãnh là cần thiết. Vấn đề là nghĩa vụ bảo lãnh được hiểu và thực hiện như thế nào để đảm bảo lợi ích cho chủ đầu tư.

Bảo lãnh nghĩa vụ nào?
Điều 27 dự thảo quy định: “Chủ đầu tư các dự án BĐS chỉ được phép ký hợp đồng bán, cho thuê, cho thuê mua BĐS hình thành trong tương lai khi đã có bảo lãnh của Tổ chức tài chính hoặc ngân hàng về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho chủ đầu tư nếu chủ đầu tư không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình trong hợp đồng hai bên đã ký kết”.
Ở đây có thể hiểu nghĩa vụ thực thi của chủ đầu tư theo Điều 27 là nghĩa vụ chung cho toàn bộ quá trình huy động, cũng như mục đích sử dụng vốn huy động (nghĩa vụ chính) tính từ thời điểm dự án đủ điều kiện huy động vốn theo quy định.
Nếu trong quá trình huy động vốn, chủ đầu tư không tiếp tục thực việc triển khai dự án hay sử dụng đồng vốn góp của bên mua nhà phục vụ cho mục đích khác (cơ sở quy cho việc chậm trễ thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng) thì ngân hàng sẽ đứng ra thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Tuy nhiên trên thực tế việc huy động và sử dụng vốn sai phạm đến đâu và như thế nào là điều không phải ai cũng được biết ngoài chính chủ đầu tư. Do vậy nếu bảo lãnh chung cho toàn bộ nghĩa vụ huy động vốn, triển khai dự án, một mặt là có lợi cho bên mua nhưng lại không phản ánh được quá trình sử dụng, lưu chuyển dòng tiền, nhất là các nghĩa vụ đã thực hiện của doanh nghiệp dự án.
Lấy ví dụ, Công ty A triển khai dự án đến tầng 5, đang huy động vốn của bên mua nhà nhưng không thể thực hiện tiếp dự án do đang lúc kinh tế khó khăn, đối với phần vốn đã huy động trước đó, công ty đã sử dụng đúng mục đích cam kết nhưng dựa vào điều khoản bảo lãnh, công ty phải hoàn trả cho khách hàng toàn bộ số vốn góp là điều không hợp lý.
 
Bảo vệ quyền lợi của người mua nhà là cần thiết. Song bảo vệ lợi ích trước mắt của bên góp vốn lại đẩy một bộ phận doanh nghiệp BĐS rơi vào thế “bất an” cũng không phải là cách tốt để giải quyết những bất ổn của thị trường

Về nguyên tắc, trường hợp đối tượng giao dịch không còn (nghĩa vụ theo tiến độ đã hoàn thành) thì hợp đồng giữa các bên xem như chấm dứt hay ít nhất một số nghĩa vụ độc lập được giải phóng theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật (Khoản 1, Điều 371, Bộ luật Dân sư). Do vậy trách nhiệm bảo lãnh cũng không thể đặt ra trong trường hợp này.
Tuy nhiên nếu bên dự án không chứng minh được mục đích sử dụng số vốn đã huy động thì ngân hàng sẽ có quyền thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho toàn bộ nghĩa vụ. Đây là thiệt thòi không nhỏ, có thể tác động đến tâm lý kinh doanh, đầu tư, nhất là đối với những doanh nghiệp mới tham gia thị trường.
Điều nguy hiểm hơn là khó khăn của chủ đầu tư sẽ dễ gây tâm lý, hiệu ứng dây chuyền của những người mua nhà đòi kiện tụng, yêu cầu hoàn trả toàn bộ số vốn đã góp, gây xáo trộn dòng tiền đầu tư của chủ dự án cũng như gây khó khăn cho việc xoay sở nguồn vốn để thực hiện tiếp dự án. Việc bảo lãnh “mở rộng” vì thế sẽ không có tác dụng khuyến khích, thậm chí sẽ làm giảm tính hấp dẫn của phương thức huy động vốn, dễ nảy sinh các hiện tượng lách luật huy động vốn bằng các hình thức khác trái pháp luật.
Nên chăng, bảo lãnh theo tiến độ?
Một quy định mới khác của dự thảo là quy định huy động vốn theo tiến độ hoàn thành (Điều 26). Nếu như trước đây, người mua nhà đóng tiền theo tiến độ nhưng tiến độ được hiểu là tiến độ theo quy định của chủ đầu tư.
Thông thường chủ đầu tư sẽ thu tiền nhưng không có cam kết việc hoàn thành dự án tương ứng mỗi đợt thanh toán. Số tiền đóng sẽ lũy tiến theo hạn định, thường rút ngắn để huy động được tối đa số vốn của khách hàng. Ví dụ: Đợt 1 sau khi ký kết (đã có hạ tầng ), đợt 2 sẽ là 2 tháng sau đợt 1 hay đợt 3 là 5 tháng sau đợt 2… Như thế bên góp vốn đóng tiền nhưng không hề thấy công trình được triển khai như thế nào.
Do vậy việc xác định tỷ lệ hoàn thành từng hạng mục BĐS để được phép huy động vốn là giải pháp tốt giúp cho bên góp vốn yên tâm hơn, đồng thời góp phần kiểm soát được mục đích sử dụng vốn của các chủ đầu tư.
Nhìn từ góc độ thực tế của Điều 26 thì bảo lãnh cho nghĩa vụ chủ đầu tư chính là bảo lãnh theo theo tiến độ góp vốn vì sau mỗi đợt góp vốn, nếu công trình chưa hoàn thành thì bên góp vốn có quyền từ chối tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Trong phạm vi này, trách nhiệm bảo lãnh sẽ hạn chế hơn so với khi huy động vốn dàn trải như trước đây, đồng thời bên mua cũng xác định được dòng vốn đầu tư của chủ đầu tư đi đâu về đâu (chậm hoặc không thực hiện là “sai mục đích”). Rủi ro có đến với bên mua nhà cũng chỉ là rủi ro của từng đợt góp vốn, do vậy trách nhiệm bảo lãnh cho toàn bộ nghĩa vụ là không phù hợp với quy định thanh toán theo tiến độ dự án hoàn thành của Điều 26.
Một số vấn đề nên quan tâm
Từ thực tế kinh tế khó khăn hiện nay có thể thấy một số điểm chưa hợp lý liên quan đến quy định bảo lãnh:
Một: Nhiều dự án BĐS không thể triển khai một phần là do yếu tố chủ quan, trong bối cảnh đó, bảo lãnh cho toàn bộ nghĩa vụ của chủ đầu tư (như đề cập trên đây) là quy định rất nhạy cảm, sẽ dẫn đến nhiều rủi ro cho chủ đầu tư.
Vì vậy cần có quy định phân loại cụ thể những trường hợp cần bảo lãnh hoặc bảo lãnh theo từng nghĩa vụ, có tiêu chí làm rõ điều kiện áp dụng và xác định hành vi theo tính chất vi phạm để đảm bảo đánh giá đúng thực tế quá trình thực hiện hợp đồng của chủ đầu tư.
Hai: Việc bắt buộc chủ đầu tư tham gia vào giao dịch bảo lãnh là chưa hợp lý vì bản chất của quan hệ bảo lãnh là giao dịch dân sự, quyền lợi của các bên thông qua bảo lãnh phải được các bên thỏa thuận, thống nhất thực hiện.
Quy định áp đặt sẽ rất khó nếu các bên không thể hoặc chưa thể đạt được các thỏa thuận cần thiết và càng không thể xem hành vi không tham gia bảo lãnh của chủ đầu tư là vi phạm để nhà nước can thiệp bằng các biện pháp hành chính, xử lý theo quy định.
Ngoài ra, liên quan đến việc xử lý tài sản đảm bảo trong điều kiện phức tạp của thị trường khi quy định được triển khai, nhiều dự án sẽ có thể sẽ rơi vào tình thế buộc phải xử lý theo điều khoản đảm bảo (thường dùng chính dự án để đảm bảo), dễ dẫn đến nhiều hệ lụy về nợ tín dụng.
Ba: Hiện nay chưa có bất kỳ nghiên cứu đánh giá tổng thể các tác động của các quy định liên quan đến năng lực của chủ đầu tư. Quy định bảo lãnh sẽ góp phần làm phức tạp hơn điều kiện huy động vốn, nhất là trong bối cảnh dự thảo, pháp luật hiện nay có đến (ít nhất) 5 biện pháp được xem là “rào cản kỹ thuật” cho mỗi dự án đầu tư BĐS.
Bảo vệ quyền lợi của người mua nhà là cần thiết. Song bảo vệ lợi ích trước mắt của bên góp vốn lại đẩy một bộ phận doanh nghiệp BĐS rơi vào thế “bất an” cũng không phải là cách tốt để giải quyết những bất ổn của thị trường, dễ gây xáo trộn, tác động tiêu cực về kinh tế và xã hội.
Do vậy các cơ quan nhà nước cần có những nghiên cứu thêm một số cơ chế hỗ trợ cho bên góp vốn tham gia nhiều hơn vào giao dịch. Chẳng hạn như quy định thực hiện việc bảo lãnh theo tiến độ.
Trách nhiệm bảo lãnh của ngân hàng chỉ phát sinh sau một thời gian được ân hạn cho chủ đầu tư thực hiện “nghĩa vụ đến hạn”, nếu không chủ đầu tư hoặc phải thực thi nghĩa vụ theo quan hệ bảo lãnh hoặc “buộc” phải chuyển nhượng dự án cho chủ mới. Đây là cơ sở quan trọng để bên góp vốn được quyền tham gia bàn bạc, tìm kiếm đối tác nhà đầu tư mới nhằm đảm bảo quyền lợi của họ sau thời điểm chuyển nhượng.
LS. HUỲNH TRUNG HIẾU (Công ty luật Hasslaws)
(Theo DNSG)
 

Quy định về san lấp mặt bằng

00:08 |
Nhà tôi và hàng xóm có đất liền kề, hàng xóm hiện đang múc đất (hạ mặt bằng, sâu xuống khoảng 4m), nhà tôi ở phía trên cao hơn. tôi sợ họ múc đất làm sạt đất nhà tôi,
Xin hỏi quy định về san lấp mặt bằng. họ phải làm gì để đảm bảo an toàn đất nhà tôi?


Trả lời:
 Luật sư Đào Thị Liên - công ty Luật Tiền Phong xin được tư vấn cho bạn như sau:

Mọi hoạt động thi công xây dựng (gồm cả hoạt động san lấp) đều phải được xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bạn không nói rõ việc san lấp của chủ thửa đất liền kề có phải để xây dựng nhà ở riêng lẻ hay không nên rất khó xác định văn bản điều chỉnh cụ thể. Nếu việc hạ mặt bằng xuống để phục vụ cho hoạt động đào móng nhà, xây dựng nhà ở thì sẽ được điều chỉnh bởi Thông tư 39 /2009/TT-BXD ngày 09/12/2009 về hướng dẫn quản lý xây dựng nhà ở riêng lẻ và khi tiến hành các hoạt động thi công, chủ đầu tư phải thực hiện rất nhiều việc trong đó có việc kiểm tra hiện trạng các công trình liền kề: tình trạng lún, nghiêng, nứt, thấm dột và các biểu hiện bất thường khác của công trình liền kề. Thiết kế nhà ở phải được lập trên cơ sở kiểm tra ranh giới đất và chất lượng nền đất nơi dự kiến xây dựng nhà ở hoặc báo cáo kết quả khảo sát xây dựng, nếu có; kết quả xem xét, kiểm tra hiện trạng các công trình liền kề, lân cận; phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy định khác của pháp luật có liên quan; phải bảo đảm an toàn cho nhà ở và không làm ảnh hưởng bất lợi tới các công trình liền kề, lân cận (điều 4 Thông tư 39). Mọi vi phạm, sai sót trong quá trình thực hiện mà gây thiệt hại cho hộ liền kề chủ đầu tư phải bồi thường (điều 19).

Điều 268 của Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng có quy định về nghĩa vụ bảo đảm an toàn đối với công trình xây dựng liền kề. "Khi đào giếng, đào ao hoặc xây dựng các công trình dưới mặt đất, chủ sở hữu công trình phải đào, xây cách mốc giới một khoảng cách do pháp luật về xây dựng quy định. Trong trường hợp công trình có nguy cơ đe dọa sự an toàn bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ công trình phải thực hiện ngay các biện pháp khắc phục; nếu gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh thì phải bồi thường”.

Hy vọng các nội dung luật sư tư vấn sẽ giúp bạn hiểu các quy định của pháp luật hiện hành đối chiếu với thực tế để bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của mình.

Nếu bạn còn băn khoăn hay cần trợ giúp, bạn có thể gọi về tổng đài tư vấn pháp luật của công ty Luật Tiền Phong số 04-1088/4/3 để được hỗ trợ thêm.

Trân trọng./.